Đặt tên
Ngày xưa nước ta không có hộ tịch, đứa trẻ sinh ra không phải khai sinh ngay. Ta cho rằng vấn đề hộ tịch là vấn đề riêng của từng cá nhân và chỉ liên quan tới cá nhân và gia đình đương sự.
Bởi vậy khi đứa trẻ mới sinh ra, người ta có lệ quen gọi nó là thằng cu, cái đĩ, thằng tý, con đỏ v.v… tùy theo con trai hay con gái.
Cho tới lớn, nhiều khi lấy vợ lấy chồng, con cái mới bắt đầu được cha mẹ chính thức đặt tên cho, và khi đã được đặt tên rồi, tên vẫn có thể thay đổi được nếu vì trùng danh hoặc phạm phải tên kiêng, hoặc vì cái tên cũ mang lại những điều không may cho gia đình hoặc cho bản thân đứa trẻ.
Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, trước khi lấy tên là Nguyễn Khuyến đã mang tên là Nguyễn Văn Thắng, nhưng sau khi vì trượt khoa thi Hội năm Ất Sửu, nên cụ mới đổi tên. Sau khi đổi tên, cụ đã đỗ Tam Nguyên năm Tân Mùi.
Sự chọn tên đặt cho con cái, người Việt xưa rất thận trọng. Chẳng thà không đặt tên, cứ gọi con bằng một tên mách qué, chứ đã đặt tên, cái tên ít ra phải nói lên được cái sở nguyện của cha mẹ mong cho con, hoặc như trường hợp cụ Tam Nguyên nói trên, cái sở nguyện của chính người tự đặt tên lấy.
Truyện ông Ngô Thì Sĩ đặt tên cho ông Ngô Thì Nhiệm là một thí dụ.
Khi ông Nhiệm lên sáu tuổi, ông Ngô Thì Sĩ mới hỏi ý ông muốn lấy tên gì. Ông Nhiệm đã thưa:
– Thưa cha, con xin phép cha cho con ghép vào tên húy của cha (chữ Sĩ), một chấm phảy để làm tên con; chữ Nhiệm. Nhiệm là gánh vác, ý cậu bé muốn mai sau gánh vác một phần trách nhiệm của nước nhà.
Lớn lên, ông Ngô Thì Nhiệm đã không hổ với tên Nhiệm của mình.
Tôi xin đơn cử thêm một thí dụ nữa: trường hợp cụ thân sinh ông Cao Bá Quát đặt tên cho hai con là Bá Đạt và Bá Quát. Đời nhà Chu có tám vị hiền sĩ là Bá Quát, Bá Đạt, Trọng Đột, Trọng Hốt, Thúc Dạ, Thúc Hạ, Quý Quỳ và Quý Đa.
Đặt tên cho hai con là Bá Đạt và Bá Quát, cụ thân sinh ra các ông đã muốn cho các con sau trở nên những bậc hiền sĩ. Sau khi đặt tên con rồi, cha mẹ mới ghi tên con vào gia phả và vào các giấy tờ liên quan tới con như lá số tử vi chẳng hạn.
Thành phần của tên
Tên thường gồm có họ, chữ đệm và tên, nhưng có nhiều khi, người ta không dùng chữ đệm.
Họ từ tổ tiên truyền xuống, qua đời này đến đời khác. Thường thì con lấy họ cha, nhưng cũng có trường hợp con theo họ mẹ:
-Khi mẹ không có anh em trai, một trong các người con lấy họ mẹ giữ việc phụng thờ ngoại tộc.
-Khi người mẹ lẳng lơ, sinh con không cha.
Mỗi người thường giữ họ của mình cho đến chết, nhưng cũng có khi có người thay đổi họ:
-Xưa kia thân nhân những tướng giặc, tướng cướp đã bị bắn chết, cùng những họ nhà vua đã bị truất ngôi, phải trốn tránh ở các nơi xa lạ, cần thay họ đổi tên để khỏi lộ tông tích.
-Những người có công với triều đình được nhà vua ban cho quốc tính, lấy họ vua thay cho họ mình, như ông Trần Bình Trọng chính là họ Lê.
Con nuôi, đôi khi bỏ họ cha mẹ đẻ để lấy theo họ cha mẹ nuôi.
Chữ đệm dùng để nối liền họ với tên.
Thường đàn bà con gái dùng chữ thị, còn đàn ông con trai dùng mấy chữ văn, đình, thế, huy, duy, hữu v.v…
Ngày nay, chữ đệm thường thay đổi nhiều, đàn bà con gái nhiều khi không dùng chữ thị mà dùng những chữ khác để cho tên nghe được kêu như chữ mộng, lệ, thùy v.v… và đàn ông con trai cũng dùng nhiều chữ khác thay những chữ đã kể trên.
Tên chính là tiếng dùng để gọi, và là phần chót trong tính danh.
Như trên đã nói, tên được chọn sao để nói được cái sở nguyện của cha mẹ, của kẻ mang tên, hay ít ra tên cũng phải có một nghĩa gì.
Con gái, người ta ưa lựa tên các thứ hoa, kèm trước một chữ đệm thật văn vẻ, lan, cúc, mai, đào, liễu, liên. Các tên trên ghép vào các chữ đệm có thể thành Mộng Lan, Thúy Liễu, Lệ Mai v.v…
Người ta cũng dùng tên bốn mùa để đặt cho con gái: Mộng Xuân, Lệ Thu, Thúy Hạ, Diễm Đông…
Tên con trai, thường đặt những tên hùng mạnh hoặc có tính cách về nam phái: Nhân, Trí, Dũng, Tín, Trực v.v…
Có khi để giản tiện, người ta lấy ngay năm sinh theo thập can hoặc thập nhị chi để đặt cho con: Giáp, Ất, Bính, Đinh…, Tý, Sửu, Dần, Mão…
Cũng có người lấy địa đanh nơi sinh con đặt cho con: Thái (Thái Bình), Định (Tân Định) v.v…
Tất cả những lối đặt tên trên chỉ có tính cách chỉ dẫn không phải nhất thiết phải như vậy, nhất là ngày nay trong việc đặt tên có thay đổi nhiều. Có điều, trong một nhà người ta vẫn tránh sự trùng danh, và xưa kia có tục kiêng tên.
Tục kiêng tên
Không ai lấy tên các vị thần linh đặt cho con, cũng như không bao giờ dùng tên một người trên để đặt cho con mình, e mang tội bất kính.
Nhiều người khi thù hằn một kẻ nào, thường lấy tên của kẻ đó đặt cho con, coi như vậy là một điều sỉ nhục cho kẻ thù. Trong thôn xã, đã có xảy ra những trường hợp vì vô ý, có người đặt tên con nhằm vào tên cha mẹ hoặc ông bà một người trong làng. Khi người này biết, và hiểu rằng đó chỉ là một sự nhầm lẫn chứ không phải là một sự cố ý, người này liền mang cau trầu bao chè tới để yêu cầu người kia sửa lại tên con để tránh sự trùng danh với bề trên của mình.
Kiêng tên là một điều quan trọng của phong tục ta. Ta có câu Nhập môn nhi vấn húy nghĩa là khi vào một nhà nào phải hỏi tên húy để biết mà kiêng.
Người có con bắt đầu được kiêng tên. Kể từ khi có đứa nhỏ người ta dùng tên nó để gọi cha mẹ nó, dù tên nó mới chỉ là một tên tạm như tên Tí, tên Tẹo. Người ta gọi bố mẹ nó là bác Tí giai, bác Tí gái, cậu Tí, mợ Tí, ông Tí, bà Tí, hoặc bác Tẹo giai, bác Tẹo gái, cậu Tẹo, mợ Tẹo, ông Tẹo, bà Tẹo v.v…
Trong sự giao thiệp của giới thượng lưu, thường dùng họ để gọi thay tên: Nguyễn Tiên sinh, Đào Tiên sinh, Đỗ Quý hữu, Ngô Ngân huynh, Đặng Tôn Ông, bác Lê, bác Trần v.v… Khi một người có chức tước, văn bằng, thì chức tước và văn bằng được gọi thay tên: Ông Huyện Đặng, cụ Cử Vũ, ông Bát Vương, ông Hàn Ngữ v.v…
Đối với những người có danh vọng tiếng tăm, để kính trọng, người ta chỉ gọi tới tên làng: ông tú Vị Xuyên là Tú Xương, cụ Tam nguyên Yên Đổ là cụ Nguyễn Khuyến, v.v…
Thường chỉ những người bạch đinh mới phải dùng đến tên để gọi, bởi vậy tại các thôn xã người ta cố mua chân nhiêu, chạy chân xã để được gọi là ông nhiêu, ông xã, bà xã thay tên của mình.
Những người giữ những chức vụ trong làng, trong tổng đều được gọi bằng chức vụ. Theo tục lệ, con cháu tránh đọc tới tên cha mẹ ông bà và tổ tiên, dân chúng kiêng tên các quan và tên vua chúa.
Chính vì tục kiêng tên, mà nhiều chữ phải cải chệch sang chữ khác: hoa đổi là bông, hoàng đổi tên là huỳnh, nguyên đổi là ngươn, long đổi là luông v.v…
Các kỳ thi ngày xưa có lệ kiêng húy, trong bài văn, thí sinh tuyệt đối không được dùng những chữ tên nhà vua và các vị tôn tộc trực hệ. Tên các vị tổ tiên xa của nhà vua có thể dùng được nhưng phải đánh ngoặc cho khác đi.
Những chữ húy được yết tại trường thi: Phạm húy thì bị tội. Ngoài ra, bố mẹ cũng kiêng gọi tên con trong lúc đi đêm hoặc trong khi qua một nơi thanh vắng, e tà ma theo hành đứa nhỏ.
Tục kiêng tên nay đã mất ở nơi đô thị, nhưng ở một vài địa phương vẫn còn giữ, nhất là kiêng tên các vị thần linh.
Ở đô thị, tên các vị vua chúa, anh hùng xưa kia vẫn được kiêng, nay được đem đặt cho đường phố để tỏ sự sùng kính.
Tên của một người
Đã xét đến việc đặt tên, không thể không nói tới các loại tên của ta.
Ngoài tên tục hoặc tên húy ta hằng kiêng, một người thường có tên hiệu và tên tự nữa.
Tên hiệu tức là biệt hiệu, thường do tự đương sự đặt lấy.
Tên hiệu thường ta có ý gói ghém ý nguyện ở trong.
Thí dụ: Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy hiệu là Bạch Vân Am, là có ý muốn sống ở một am thanh vắng chỉ có mây trời.
Tên tự thường được đặt một cách làm sao để qua tên tự người ta có thể liên tưởng tới chính danh của mình.
Như Trương Hán Siêu lấy tên tự là Trác Như nghĩa là nổi lên. Hai chữ Trác Như nhắc tới chữ Siêu là cao cả.
Cũng có người dùng tên sông núi địa phương để đặt, ông Nguyễn Khắc Hiếu lấy tên tự là Tản Đà. Hai chữ tên tự Tản Đà gồm núi Tản Viên và sông Đà Giang, tức là sông núi địa phương quê của ông.
Hoặc có người dùng ngay tên làng mình làm tên tự như ông Nguyễn Du lấy hai chữ Tiền Điền, là tên quê hương ông.
Tên thụy
Ngoài các tên tự, tên hiệu và chính danh trong lúc sống, mỗi người khi lúc chết còn có một tên Thụy. Tên này còn gọi là tên hèm, hoặc tên cúng cơm, tức là cái tên chỉ khấn đến khi cúng giỗ. Thường tên thụy gồm hai chữ và hai chữ này cố tóm tắt đủ các đức tính của người mang tên.
Tên thụy có khi do chính đương sự lúc lâm chung, tự đặt lấy rồi bảo cho con cháu biết hoặc có khi do người nhà đặt, trong trường hợp người chết không kịp tự đặt lấy hoặc lúc sắp chết không còn đủ sáng suốt để tự tìm cho mình một tên thụy. Người nhà đặt tên rồi báo cho người hấp hối biết, hoặc nếu đương sự đã chết thì khấn ngay cho linh hồn đương sự hay. Như đã nói, tên thụy cố tóm tắt đức tính người chết. Thí dụ ông Trương Đình Mậu lúc sống người thuần hòa cẩn thận, bình tĩnh, siêng năng, khi lâm chung tự đặt tên thụy là Thuần Cẩn. Khi cúng tế, con cháu sẽ khấn: Nguyễn Quý Công, húy Đình Mậu, thụy Thuần Cẩn phủ quân.
Trong những ngày giỗ chạp, lúc cúng vái người ta chỉ khấn tên thụy, còn tên húy, người ta khẽ lâm râm trong miệng lúc vái. Trong các sử sách, người ta cũng chép tên các vua chúa qua tên thụy như Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tôn, hoặc qua niên hiệu như Gia Long, Minh Mệnh, chứ không chép tới tên húy.
Danh với hồn
Theo phong tục Việt Nam, tên rất quan trọng, tên đi liền với hồn.
Khi một người ngất đi bất tỉnh, hoặc chết, người ta cho là hồn đã xuất khỏi người và phải gọi tên hú hồn để người ngất hồi lại, và có thể người chết sẽ sống lại chăng?
Các thầy phù thủy, các đạo sĩ có thể tác oai tác phúc cho một người khi biết rõ tên họ, ngày sinh tháng đẻ của người này và có trong tay một manh quần áo, một mớ tóc hay một móng tay của người đó bằng phép trù, ếm hay chài.
Đổi tên
Ở trên đã nói về việc đổi họ, đây xin nói qua về việc đổi tên.
Xưa kia, nước ta chưa có hộ tịch rõ ràng, nhiều người thường lúc bé mang một tên, lúc lớn lại mang tên khác.
Có nhiều người bị bố mẹ đặt cho một tên xét ra không mang lại may mắn cho mình, bèn thay đổi tên khác.
Các thí sinh thi trượt thường đổi tên như trường hợp cụ Tam nguyên Yên Đổ đã tự đổi tên là Nguyễn Văn Thắng thành Nguyễn Khuyến.
Kể từ khi luật hộ tịch được đặt ra, vẫn có nhiều người đổi tên, nhưng muốn đổi tên phải xin phép chính quyền.
Ngày nay, có nhiều trẻ em trong khai sinh mang một tên, nhưng vì kiêng kỵ, ở nhà cũng gọi em đó bằng một tên xấu xí, để rồi đến khi đi học, cái tên chính trong khai sinh mới được dùng tới.
Riêng về phái nữ, tên mình chỉ dùng cho đến lúc lấy chồng. Lấy chồng sẽ được gọi theo tên chồng. Ngày nay nhiều phụ nữ tuy đã lập gia đình, nhưng tên con gái vẫn được dùng, đó là trường hợp các nữ công chức. Ở nhà gọi theo tên chồng, tới Sở chính, tên riêng vẫn được sử dụng.
Nuôi con, kể từ lúc sơ sinh cho đến khi đặt tên trải bao tục lệ, và bố mẹ thương con, thường thành tâm tin hết mọi tục lệ để mong cho con được làm người.
Giai đoạn khôn lớn của con, cha mẹ cũng không trễ nải, dù đứa con đã được đặt tên hay còn chờ khi thành người hẳn.


SẢN PHẨM CỦA BÔNG MAY
Cung cấp cây lau nhà giá sỉ (xuất VAT)
Cung cấp chổi dừa bến tre giá sỉ
Bán chổi đót chổi dừa và dụng cụ vệ sinh giá sỉ tỉnh Bình Dương
Mua chổi đót quét nhà giá rẻ ở đâu?
Cung cấp chổi quét sân trường học – giá rẻ nhất
Cung cấp sọt nhựa tròn, bầu, vuông Duy Tân giá sỉ (Xuất VAT)
Gợi ý quà tặng 20/10 Tôn vinh phụ nữ Việt 🌷💝
Cung cấp chổi cỏ vệ sinh trường học – Giá đặc biệt
Chổi cọng dừa giá sỉ tại chổi Bông May
BÀI VIẾT HAY
Thể lệ thi võ thời nhà Nguyễn
Jun
Cân bằng nội trợ: Bí mật quản lý thời gian ⏰
Oct
Lễ hội Việt Nam – Hồn cốt dân tộc qua ngàn năm 🎉🌾
Oct
Nghi thức tang lễ truyền thống của người Việt
Jan
Phong tục truyền thống Việt Nam vào Tết Nguyên Đán
Nov
Một số phong tục Tết Rằm tháng Bảy xá tội vong nhân
Nov
🥬 Hướng dẫn làm dưa cải muối – Hương vị dân dã Việt Nam
Oct
Lễ giỗ của người Việt
Mar
5 câu thần chú trước khi rút ví – Tránh “hố” mua sắm cuối năm
Oct
Du lịch dưỡng sinh: Gió lành nuôi dưỡng thân tâm 🌿🧘♀️
Oct